Trở lại trang trước

Năm 2020, 8 triệu người Việt sẽ bị viêm gan siêu vi B

Ngày tạo: 2016-02-29 15:24:56

Theo báo cáo của Bộ Y tế, số bệnh nhân mắc bệnh viêm gan siêu vi B chiếm tới 8-25% dân số nước ta, ước tính cho đến năm 2020 sẽ có tới 8 triệu người nhiễm virus viêm gan B mạn tính tại Việt Nam.
 
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh viêm gan do virus là nhân tố thứ 7 gây tử vong trên toàn cầu. Hiện nay có từ 6 đến 10 triệu người mắc bệnh này, 1,4 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó nhiều nhất là viêm gan virus C (48%), B (47%), còn lại là viêm gan A và E. Nhóm người tiêm chích ma túy có nguy cơ lây nhiễm cao nhất vì hiện trạng dùng chung bơm kim tiêm, ước tính trong số 16 triệu người tiêm chích ma túy có khoảng gần 10 triệu trường hợp nhiễm virus viêm gan C.
 
Bộ Y tế khuyến cáo, viêm gan virus đứng thứ ba trong số các nguyên nhân gây tử vong ở nước ta, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là viêm gan siêu vi B. Điều tra gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm có tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B và C cao trong quần thể dân cư nhìn chung, chịu hậu quả nặng nề của bệnh. Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B trung bình 8-25%, viêm gan C 2,5-4,1%. hơn nữa còn ghi nhận một số trường hợp viêm gan A, D, E. Đặc biệt trong nhóm người tiêm chích ma túy có đến 54% mắc viêm gan siêu vi C. 
 
Tỷ lệ dân cư mắc bệnh này có sự khác nhau giữa những địa phương. Cao nhất ở Hà Bắc 25,5%, tiếp đến là Vĩnh Phúc 23,2%, Lâm Đồng 16,74%, Khánh Hòa 15,48%, TPHCM 11,3%... Mức độ nhiễm virus viêm gan B ở nhóm phụ nữ có thai khá cao. Đây là nhân tố trọng tâm gây viêm gan B ở trẻ sơ sinh và là yếu tố chính gây viêm gan mạn tính ở trẻ. Một số nghiên cứu kỹ cho thấy 90% trẻ mắc viêm gan B sau thời điểm sinh hoặc trong những năm đầu đời có nguy cơ chuyển thành viêm gan B mạn tính. Đây được xem là vấn đề y tế nghiêm trọng.
 
 
Cục Y tế Dự phòng nhìn nhận hậu quả lâu năm của nhiễm viêm gan virus dẫn tới bệnh gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan làm tăng gánh nặng giá thành cho ngành y và toàn xã hội. 
 
Trong lúc đó công tác dự phòng và điều trị bệnh này ở nước ta còn nhiều phức tạp, nhất là ở tuyến y tế huyện, xã thiếu cơ sở vật chất, thiết bị điều trị và thuốc men. Đơn vị đủ năng lực điều trị viêm gan xuất hiện chủ yếu ở một số bệnh viện tuyến cuối tại các tỉnh thành lớn. 
 
Riêng viêm gan C chưa có văcxin ngừa, việc điều trị chủ yếu là chạy thuốc nhưng bệnh nhân viêm gan C khó có thời cơ tiếp cận các loại thuốc kháng virus mới do giá thành cao, chưa được Bảo hiểm y tế chi trả hoặc chưa được cấp phép lưu hành tại Việt Nam. Mặt khác, việc không tuân thủ hoàn chỉnh phác đồ điều trị có thể làm giảm kết quả điều trị.
 
Bệnh viêm gan virus B hoàn toàn có thể phòng ngừa được nếu vận hành văcxin sớm và đúng qui định, chính vì vậy Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo toàn bộ trẻ em nên được tiêm phòng văcxin viêm gan B. Đối với trẻ em ở địa điểm tại có tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B cao như nước ta, nên tiêm trong vòng 24 giờ sau khi sinh và những liều sau đó theo đúng lịch tiêm chủng. 
 
Trong bối cảnh gánh nặng bệnh gan bởi virus ngày càng nặng nề, WHO kêu đến chỗ sự chung tay của các quốc gia trong việc phòng chống bệnh với mục tiêu không còn lây truyền viêm gan virus trên thế giới, tất cả bệnh nhân đều được chăm sóc và điều trị an toàn, kết quả tốt. 
 
Ở góc độ khác, TS Dương Thị Hồng, Phó Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung ương, lo ngại những năm gần đây xảy ra một phần nhỏ trường hợp tai biến liên quan đến tiêm chủng giúp nhiều phụ huynh hoang mang không cho con em đi tiêm. Một số bệnh viện cũng ngại triển khai tiêm ngừa vì  lo sợ rủi ro. Từ đó tạo ra tỷ lệ tiêm văcxin giảm hẳn. Đây là một trong những nhân tố giúp các bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó có viêm gan.
 
Theo bà Hồng, tỷ lệ tai biến vì tiêm chủng ở nước ta trong giới hạn cho phép của WHO, dù vậy ngành y tế đang nỗ lực bắt đầu những giải pháp vì muốn giảm xuống nguy cơ này. Thời gian qua, Bộ Y tế tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ tiêm chủng với mục đích phát hiện sớm các dấu hiệu sốc phản vệ sau tiêm, xử trí kịp thời, đúng giải pháp sẽ cứu sống được những trẻ bị tai biến nặng. Hơn nữa còn hướng dẫn phụ huynh cách phát hiện sớm một số dấu hiệu tai biến để kịp thời tạo ra cơ sở y tế xử trí theo đúng phác đồ.
 
Khảo sát của WHO tại Việt Nam cho thấy, tỷ lệ bệnh viêm gan C tăng lên những  phần lớn người dân và bệnh nhân thiếu kiến thức về bệnh nên không có khái niệm về tầm soát, điều trị và phòng ngừa lây lan. Rất nhiều người bệnh chủ quan cho rằng mình không có nguy cơ nhiễm virus này nên không tiến hành các xét nghiệm sớm, vô tình lây truyền mầm bệnh cho những người xung quanh.

Bình Luận